Mổ xẻ tiến trình dân chủ hóa (Phần 1/2)

Disaggregating democratization” (1/2), trích từ Chương 29 “What causes democratization” của tác giả Barbara Geddes, trong Robert E. Goodin, ed. 2011. The Oxford Handbook of Political Science. New York: Oxford University Press. Bản dịch tiếng Việt © 2016 Nguyễn Hồng Anh.

Việc giả định rằng chỉ có một cách giải thích duy nhất về dân chủ hóa có thể là lý do khiến các học giả tiếp tục tranh cãi về nguyên nhân của tiến trình này. Mỗi nhà phân tích hiểu biết về một số trường hợp sâu hơn những trường hợp khác, và theo tự nhiên họ bị thu hút nhiều hơn tới những mô hình giải thích những trường hợp họ hiểu rõ hơn. Các phát hiện của các nghiên cứu mẫu lớn cũng khác nhau tùy thuộc vào sự cụ thể hóa [các biến], quãng thời gian khảo sát, và các trường hợp được chọn, khiến cho những ý tưởng cơ bản nhất cũng gây tranh cãi. Những kết quả đa dạng như vậy có thể đoán trước được nếu áp dụng những mô hình thống kê đơn lẻ cho một tập hợp những tiến trình rất khác nhau mà không có sự làm rõ tiến trình có thể thay đổi theo thời gian hoặc trải qua các giai đoạn chuyển tiếp như thế nào.[i] Tôi cho rằng sẽ hữu ích nếu ta xem xét khả năng các quá trình dân chủ hóa diễn ra trong các bối cảnh khác nhau có thể khác nhau, những khác biệt này có thể mang tính hệ thống, và phát triển một tư duy lý thuyết về những khác biệt này sẽ dẫn tới những kết quả thực nghiệm hữu ích và giúp hiểu rõ hơn các tiến trình này thực sự diễn ra như thế nào.

Hai khác biệt về bối cảnh có thể ảnh hưởng tới tiến trình dân chủ hóa là giai đoạn lịch sử mà tiến trình này diễn ra và dạng thể chế mà nền dân chủ thay thế. Các tiến trình dân chủ hóa sớm đã diễn ra trong các nền kinh tế tư bản mà ở đó người giàu thường nắm quyền lực chính trị. Các tiến trình dân chủ hóa sau này đã diễn ra tại các quốc gia mà nhà nước nắm giữ phần lớn tư liệu sản xuất, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên. Công hữu tạo điều kiện cho các nhà lãnh đạo chính trị tích lũy tài sản đồng thời có thể phân bổ lợi ích tới những người ủng hộ, và trong một số trường hợp tới các công dân, mà không cần đánh thuế cao người giàu. Trái ngược với những người có được quyền lực chính trị do có tài sản cá nhân lớn, những nhà cầm quyền giàu lên nhờ tiếp cận được các nguồn lực quốc gia sợ rằng họ sẽ đánh mất hầu hết các tài sản của mình nếu bị phế truất, bất kể phân phối thu nhập hay các yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới việc đánh thuế trong tương lai như thế nào.

Hầu hết các tiến trình chuyển đổi trước Thế chiến thứ hai đều là chuyển đổi từ một dạng chính phủ tập quyền (oligarchic government); nhiều tiến trình diễn ra dần dần từ bầu cử rất hạn chế tới phổ thông đầu phiếu. Các tiến trình dân chủ hóa sau Thế chiến thứ hai diễn ra theo những cách rất khác, nhưng hầu hết đều có sự chuyển đổi ngay tới nền dân chủ phổ thông đầu phiếu. Các tiến trình này bao gồm chuyển từ chế độ thực dân sang chế độ dân chủ phổ thông đầu phiếu ngay khi giành được độc lập; từ chế độ chuyên chế (authoritarianism) phổ thông đầu phiếu sang chế độ dân chủ phổ thông đầu phiếu; và các tiến trình tái dân chủ hóa trong đó hầu hết các đảng phái và các thiết chế chính trị của nền dân chủ trước đây được khôi phục lại khi kết thúc giai đoạn chuyên chế xen giữa. Các chuyển đổi từng bước từ bầu cử hạn chế tới phổ thông đầu phiếu hầu như đã không còn trong 50 năm qua (ngoại lệ xem Huntington 1991).

Nếu sự chống đối của giới chóp bu đối với nền dân chủ xuất phát từ việc sợ đánh thuế mang tính tái phân phối, sự mở rộng dần quyền bỏ phiếu có lẽ sẽ dễ dàng hơn mở rộng đột ngột vì người cử tri trung vị (median voter) sau một quá trình được trao quyền bầu cử hạn chế sẽ trở nên giàu có hơn và do đó sẽ đòi hỏi tái phân phối ít hơn. Các lựa chọn thiết chế như vậy thường được đưa ra trong quá trình mặc cả về điều kiện chuyển đổi. Các nhà cầm quyền chuyên chế lo ngại về đánh thuế tái phân phối có thể sẽ thương lượng về việc mở rộng dần quyền bầu cử, nhưng các nhà độc tài với những nỗi sợ khác có thể không cho rằng bầu cử phổ thông đầu phiếu là điều đáng ngại.

Nhiều ảnh hưởng quốc tế tới tiến trình dân chủ hóa đã mạnh mẽ hơn từ sau Thế chiến thứ hai và có thể còn lớn hơn nữa từ sau thập niên 1980, dù điều này còn gây tranh cãi. Những khác biệt về nguồn gốc sự giàu có của các nhà độc tài trước và sau Thế chiến thứ hai như đã nói ở trên có liên quan đến một thay đổi trong chiến lược kinh tế quét qua thế giới đang phát triển trong khoảng từ thập niên 1930 tới 1970. Hầu hết các nước đang phát triển đều khởi động các chiến lược phát triển làm tăng đầu tư, tính sở hữu, và sự điều tiết nền kinh tế của nhà nước. Những chiến lược này đã làm giảm sự phụ thuộc của nhà nước vào các nhà đầu tư tư nhân và tạo ra các nguồn thu không bị đánh thuế, mà sau đó có thể được phân bổ theo các thiết chế độc quyền và trợ cấp ở các dạng khác nhau để đổi lấy sự ủng hộ. Khả năng sử dụng các nguồn lực công để sung công tài sản của những người đã giàu có từ trước hoặc là người nước ngoài và tạo ra một giới chóp bu mới phải chịu ơn chính phủ có thể đã làm giảm những áp lực phải dân chủ hóa trong suốt những thập niên đó khi chiến lược này còn thịnh hành.

Một thay đổi thứ hai trong nền kinh tế quốc tế, bắt đầu từ khoảng năm 1980 với khủng hoảng nợ, đã chấm dứt thời kỳ nói trên. Khi các khoản vay quốc tế không còn sẵn để lấp đi những thâm hụt ngân sách và thương mại do chiến lược phát triển mang nặng tính can thiệp của nhà nước, các chính phủ ở các quốc gia đang phát triển đã phải đối mặt với những sức ép nặng nề phải ra những chính sách có tính thu hút đầu tư. Thu hút đầu tư lại phụ thuộc vào các cam kết chính sách đáng tin cậy và quyền sở hữu tài sản được bảo đảm. Nếu, như nhiều nhà phân tích đã tranh luận, các nhà độc tài có thể sử dụng các cơ quan lập pháp và các thiết chế giả dân chủ khác (quasi-democratic institutions) để đưa ra những cam kết chính sách đáng tin cậy, những thay đổi trong chiến lược kinh tế do cuộc khủng hoảng nợ những năm 1980 có lẽ đã tạo ra những động lực mạnh mẽ để dẫn tới dân chủ hóa ở một mức độ nào đó. Trong giai đoạn sau thập niên 1980, chúng ta đã thấy sự gia tăng các quá trình dân chủ hóa và cả những thiết chế giả dân chủ trong những thể chế chuyên chế (Levitsky và Way 2006).

Chiến tranh Lạnh kết thúc cũng thay đổi tiến trình dân chủ hóa. Trước năm 1990, các thể chế chuyên chế nhận được khá nhiều viện trợ và các hỗ trợ khác từ cả hai phe siêu cường. Các viện trợ đó vừa làm tăng năng lực đàn áp của các thể chế này (Boix 2003, 29-30) vừa làm tăng khả năng mua được sự ủng hộ của các nhà sản xuất nội địa mà không cần phải tái phân phối của các nhà độc tài. Theo Levitsky và Way (2006), từ năm 1990 trở đi các thể chế chuyên chế có quan hệ mật thiết nhất với Mỹ và Tây Âu thường có những thiết chế trông có vẻ dân chủ như là bầu cử đa đảng mà ở đó cho phép cạnh tranh thực sự ở một mức nào đó. Những thể chế này có thể dễ dàng bị đánh bật hơn bởi việc phản đối thường ít rủi ro và tốn kém hơn. Sự giảm viện trợ nước ngoài cho các thể chế độc tài từ sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh cũng đóng góp vào sự gia tăng các tiến trình dân chủ hóa vào cuối thế kỷ hai mươi.

Do đó, với các nguyên nhân cả trong nước và quốc tế, chúng ta có thể nghĩ rằng một mô hình cho tiến trình dân chủ hóa ở giai đoạn đầu hẳn phải khác với một mô hình cho giai đoạn sau. Phát hiện của Boix và Stokes (2003) rằng ảnh hưởng của phát triển kinh tế và phân phối thu nhập lên khả năng dân chủ hóa trong giai đoạn trước năm 1950 lớn hơn nhiều so với trong giai đoạn sau đó củng cố thêm ý tưởng mô hình hóa các tiến trình riêng biệt cho hai giai đoạn này sẽ mang lại kết quả tốt.

Những khác biệt theo thời gian này về nguyên nhân của dân chủ hóa có thể một phần bắt nguồn từ những khác biệt về dạng thể chế mà từ đó các nền dân chủ trỗi dậy. Các nền dân chủ trước Thế chiến thứ hai, diễn ra chủ yếu ở châu Âu và châu Mỹ La-tinh, hầu hết đều thay thế các chính phủ do người giàu kiểm soát, hoặc là các chủ đồn điền hoặc các nền quân chủ, thông qua các hệ thống bầu cử với quyền bầu cử rất hạn chế. Trong hầu hết các thể chế phi dân chủ này, có cơ quan lập pháp, các đảng tinh hoa (elite parties) hoặc các đảng sáng lập (proto-parties) cạnh tranh với nhau, và nỗ lực của cơ quan lập pháp để hạn chế quyền lực của các nhà quân chủ hoặc các nhà hành pháp đã đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình các thiết chế chính trị. Dân chủ hóa đã có xu hướng diễn ra thông qua việc mở rộng quyền bầu cử cho những nhóm mới mà không có thay đổi lớn nào khác về thiết chế. Nhiều công dân đã đi bầu hơn, đôi khi các đảng mới được thành lập để thu hút thêm phiếu bầu của những người mới được trao quyền bầu cử, và các cuộc bầu cử trở nên công bằng hơn, nhưng hệ thống nghị viện ở châu Âu và sự tách biệt của hệ thống quyền lực ở châu Mỹ La-tinh đã dọn chỗ cho sự tham gia của các cử tri mới và các đảng mới.

Chúng ta không thể đưa ra những nhận xét khái quát tương tự về các quá trình chuyển đổi diễn ra vào cuối thế kỷ hai mươi. Các thể chế chuyên chế nơi các nền dân chủ trỗi dậy vào cuối thế kỷ hai mươi mang một dung mạo khác với những gì được mô tả ở đoạn trên. Rất ít nhà cầm quyền được sinh ra trong các gia đình giàu có. Hầu hết giành được chức quyền hoặc nhờ một sự nghiệp nhà binh hoặc do đã vươn lên vị trí lãnh đạo một đảng cách mạng hoặc một đảng dân tộc chủ nghĩa. Một số thể chế chuyên chế đương thời đàn áp mọi hoạt động chính trị, nhưng nhiều thể chế tổ chức bầu cử thường xuyên với chế độ phổ thông đầu phiếu. Sự cạnh tranh để giành quyền kiểm soát chính phủ bị giới hạn bởi những hạn chế đặt ra cho các đảng đối lập hoặc bằng cách thao túng cử tri và sân chơi, chứ không phải hạn chế quyền bầu cử. Một số thể chế chuyên chế đương thời bảo vệ lợi ích của người giàu, nhưng một số khác đã phân chia lại đất đai, quốc hữu hóa tài nguyên thiên nhiên, và sung công các tài sản khác. Đôi khi những sự sung công này đã đưa tới phân phối thu nhập công bằng hơn nhưng cũng có những khi đưa tới phân phối bất công theo một cách khác, với của cải tập trung trong tay của gia đình kẻ độc tài và những người ủng hộ. Trước đây, những người ủng hộ chế độ sợ mất đi quyền lực nếu có một nền chính trị cạnh tranh hơn, chứ không sợ phân phối lại. Ở trường hợp sau, họ sợ bị sung công tài sản, bị đưa ra tòa vì tham nhũng và vi phạm nhân quyền, ở tù, và xử tử (Kaminski, Nalepa, và O’Neill 2006), nhưng những đe dọa này không được giảm nhẹ nhờ một cơ chế phân phối thu nhập tương đối công bằng.

Vì những khác biệt này, các tiến trình dân chủ hóa cuối thế kỷ hai mươi và đầu thế kỷ hai mốt không chỉ khác với những tiến trình đã diễn ra trước đó mà còn khác nhau. Nếu giới chóp bu giàu có ở khu vực tư nhân nắm quyền điều hành đất nước, họ có thể thực sự chống lại dân chủ hóa khi họ cảm thấy việc đánh thuế sẽ mang tính tái phân phối nhiều hơn, và những lo lắng của họ có thể được giảm nhẹ bởi một cơ chế phân phối thu nhập tương đối công bằng hoặc khả năng dịch chuyển tư bản (Boix 2003). Sự mở rộng dần quyền bầu cử có thể không là vấn đề đối với họ. Tuy nhiên, nếu giới cầm quyền giành được quyền lực thông qua bầu cử hoặc cách mạng với tư cách là lãnh đạo các phong trào lật đổ giới cầm quyền cũ, thì bất kể họ có thực sự thực hiện các lời hứa của mình hay lại nuốt lời, những lo sợ bị lật đổ của họ khó lòng giảm đi bởi những nhân tố sẽ giảm đánh thuế trong tương lai. Thay vào đó, những lo sợ của họ có thể giảm bớt nhờ những mặc cả chắc chắn sẽ không kết án họ về tội tham nhũng và vi phạm nhân quyền (nghĩa là cho họ biệt xứ ổn thỏa) hoặc những mặc cả về thiết chế có thể cho họ một cơ hội tốt để quay lại nắm quyền bằng các cuộc bầu cử cạnh tranh trong tương lai.

[i] Bên cạnh những ngoại lệ được nêu ở phần trước, một số nghiên cứu mẫu lớn đã mô hình hóa những nhân tố có sự thay đổi theo thời gian. Ví dụ, nghiên cứu của Gleditsch và Choun (2004) cho thấy việc Công giáo chiếm ưu thế ở các quốc gia có làm giảm triển vọng của tiến trình dân chủ hóa trước Vatican II nhưng lại thúc đẩy tiến trình ở giai đoạn sau. Còn Gasiorowski (1995) chỉ ra rằng khủng hoảng kinh tế trong những giai đoạn khác nhau cũng có những tác động khác nhau tới khả năng dân chủ hóa.

Tài liệu tham khảo (của phần được dịch ở trên)

Boix, C. 2003. Democracy and Redistribution. Cambridge: Cambridge University Press.

Boix, C. and Stokes, S. 2003. “Endogenous Democratization”. World Politics, 55: 517-49.

Gasiorowski, M. 1995. “Economic Crisis and Political Regime Change: An Event History Analysis”. American Political Science Review, 89: 882-97.

Gleditsch, K. S. and Choun, J. L. 2004. “Autocratic transitions and democratization”. Prepared for presentation at the International Studies Association, Montreal.

Huntington, S. 1991. The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century. Norman: Oklahoma University Press.

Kaminski, M., Nalepa, M., and O’Neill, B. 2006. “Normative and Strategic Aspects of Transitional Justice”. Journal of Conflict Resolution, 50: 292-302.

Levitsky, S. and Way, L. 2006. “Competitive authoritarianism: origins and evolution of hybrid regimes in the post-Cold War era.” Presented at APSA, Philadelphia.

Lời người dịch: Để cho dễ theo dõi hơn với độc giả đại chúng, bài dịch này được chia làm hai phần. Phần 1 ở trên tóm tắt được một cách tổng quan và khái quát các khía cạnh khác biệt mà theo tác giả là đáng lưu ý giữa các tiến trình dân chủ hóa khác nhau dựa trên những kết quả nghiên cứu của giới khoa học chính trị phương Tây nói tiếng Anh.

Phần 2 sẽ nói thêm về một cách phân loại các thể chế chuyên chế, nhưng cũng có những đoạn bàn về phương pháp nghiên cứu (mà tác giả gợi ý) mà có thể độc giả đại chúng không làm nghiên cứu không quan tâm và/hoặc sẽ thấy khó hiểu.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s